







**GIỚI THIỆU**
Lĩnh vực kinh tế vi mô được tác giả Robert C. Guell trình bày với các chủ đề cơ bản và độc đáo, giúp các sinh viên, các nhà nghiên cứu áp dụng các kiến thức kinh tế cơ bản vào thế giới thực về kinh tế và kinh doanh, đặc biệt tác giả đề cập các vấn đề kinh tế hiện đại đa dạng, ngoài các chủ đề cơ bản như chi phí cơ hội, cung và cầu, các dạng cạnh tranh thị trường, sản xuất, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp, tác giả còn đề cập các chủ đề độc đáo về thị trường lao động, thể thao, tiền lương, tiền thuế, thị trường sách giáo khoa, thị trường bán lẻ, nghiệp đoàn lao động… Tác giả đã trình bày các chủ đề kinh tế vi mô dưới dạng sinh động, thực tiễn, và khơi gợi tinh thần sáng tạo trong độc giả, nắm bắt các chủ đề kinh tế vi mô có tính khoa học và áp dụng thực tiễn cao. Các sinh viên, doanh nghiệp trong thế giới hiện đại có thể tìm hiểu và vận dụng các kiến thức cơ bản về kinh tế vi mô trình bày trong sách này, nhằm vận dụng thành công trong việc nghiên cứu học hỏi, và kinh doanh trong nền kinh tế cạnh tranh cầu mà chúng ta đang hội nhập. Xin trân trọng giới thiệu MBA. Nguyễn Văn Dung —
**KINH TẾ HỌC: NGHIÊN CỨU VỀ CHI PHÍ CƠ HỘI**
**Mục tiêu chương này**
Sau khi đọc chương này bạn có thể: * Xác định các thuật ngữ then chốt của kinh tế học và chi phí cơ hội. Hiểu được đường ranh giới khả năng sản xuất thể hiện sự đánh đổi trong thực tế cuộc sống. * Phân biệt giữa chi phí cơ hội tăng dần và chi phí cơ hội không đổi, và hiểu tại sao các chi phí này có thể xảy ra trong thực tế. * Đánh giá được ý nghĩa của sự tư duy một cách kinh tế cũng các cạnh bàm chứa.
**Chủ đề liên quan**
* Kinh tế học và chi phí cơ hội. * Mô hình chi phí cơ hội Bảng Đường biên khả năng sản xuất. * Các thuộc tính của Đường biên khả năng sản xuất. * Bức tranh tổng thể * Tư duy một cách kinh tế. * Hiểu chi tiết thêm: Thể hiện chi phí cơ hội không đổi và chi phí cơ hội tăng dần trên Đường biên khả năng sản xuất.
**Tóm tắt**
Chương này đặt nền tảng để hiểu cách tư duy như nhà kinh tế. Nó bắt đầu bằng định nghĩa khoa học kinh tế và khái niệm cơ bản nhất của nó: Chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội được mô hình hóa và giải thích sâu hơn qua sơ đồ Đường biên khả năng sản xuất. Một số sơ đồ nền kinh tế cho chương này và các chương còn lại của quyển sách được trình bày dưới dạng sơ đồ lưu chuyển. Chương này tiếp tục với thảo luận “tư duy kinh tế” là gì. Để hiểu hiểm này, chúng ta tìm hiểu tại sao các nhà kinh tế dùng phân tích chi phí tế, khám phá sự khác biệt giữa phân tích thực chức và chuẩn tắc, khảo sát các kịch thích động lực kinh tế và kết luận bằng việc xem xét các cam bảy logic cần có trong tư duy kinh tế của chúng ta. —
**Kinh tế học**
Một số nhà nghiên cứu xác định kinh tế học là chọn bộ cho giáo dục phổ quát hoặc một mơn học chính, có người xem như “món khoa học buồn tẻ”, người khác nữa, quan niệm đó là việc nghiên cứu về phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm, để thỏa mãn các nhu cầu vô hạn của con người. Sự thực thì kinh tế học gồm cả ba khía cạnh trên. Nó nổi tiếng là một môn học khó, các nhà kinh tế luôn làm lảm lòng cộng chúng bằng việc luôn nói rằng vật liệu có giá trị của nó, và kinh tế học thực sự là một khoa học xã hội, liên quan đến sự kiện là nhu cầu con người thì lớn hơn khả năng đáp ứng của các nguồn kinh tế. Trên một mặt khác, việc nghiên cứu kinh tế học là việc áp dụng các thuật ngữ và các đồ thị phức tạp vào kinh nghiệm thông thường. Thực ra bạn đã biết nhiều về kinh tế học. Thí dụ bạn biết rằng mọi điềuou lựa chọn lại đều cần đến các kết quả, rằng có tiền nhiều thì vui về hơn có ít tiền, rằng tùy ban giàu so với một người nghèo đòi, những bạn giàu ít hơn mức bạn mong ước. Dĩ nhiên có nhiều bài học kinh tế bạn chỉ việc học đơn giản qua cuộc sống. Điều bạn không có là một phương pháp tự duy hệ thống về các tương kinh tế, và đó là điều mà cuốn sách và môn học này cung cấp cho bạn. Định nghĩa trên làm sáng tỏ về điều. Trước tiên, trong cuốn sách này này một thuật ngữ có ý nghĩa chuyên biệt của các nhà kinh tế sẽ được **dài** trong đậm, với định nghĩa của nó, đó được cho dưới dạng thuật ngữ ở ngay trong bài viết, đồng thời ở bên lề cuốn sách. Nếu định nghĩa “duy đăng ký” thay vì “khái niệm”. Một vài thì khán hiếm khi nó không sẵn một nguồn vô hạn tự do sử dụng. Thứ hai, một nguồn lực là vật chúng ta hoặc tiêu thụ trực tiếp, hoặc để tạo ra các vật khác mà cuối cùng chúng ta sẽ sừ dụng. Có bốn nguồn lực cơ bản mà xã hội có thể phân bổ, tạo ra, lao động, vốn và năng lực của con người. Bất kỳ nguồn lực nào khác như đất, nhà cửa, sắt thép bắp được làm ra cho xã hội sự dụng khi nguồn lực này được phân bổ như một một một hay nhiều nguồn lực cơ bản, để dùng, tạo ra họ có gạt hái nguồn lực khác đó.
**Các lựa chọn đều có kết quả kèm theo**
Trong môn học và với quyền sách này bạn sẽ các lựa chọn học: Bạn sẽ đọc sách và học hay bạn sẽ ngủ và dự tiệc? Mạn fần rằng sự lựa chọn này nhạy khái niệm căn bản nhất về kinh tế học: chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là phương án bị bỏ đi khi thực hiện phương án lựa chọn. Điền đến theo Anh ngữ, chi phí cơ hội là “điều bạn sẽ làm. Nếu bạn không thực hiện điều bạn đã làm”. Điều quan trọng cần phải nhớ là: “Phương án bị bỏ qua” là sự lựa chọn tốt nhất theo nó. Không phải là tất cả mọi phương án mà bạn có thể sẽ làm. Nhưng nếu bạn thực hiện điều bạn đã làm”, nhưng nó là phương án tốt nhất trong các phương án, bởi vì giả định rằng đó là “điều bạn sẽ làm”. Thúy, bạn chưa đưa vào lúc nào đó những quyển sách này bạn dựa vào hoard thành bài được giao, ban hàm ý muốn nói rằng bạn thích làm điều gì khác thay vì đọc tiệc cuốn sách. Về phương diện môn học bạn đang tham dự, “Chi phí cơ hội” của một quyết định kinh tế như vậy có thể sẽ là điểm thấp do bạn không hiểu bài học. Không may rằng dù bạn làm gì, bạn không thể thoát khỏi chi phí cơ hội. Nếu bạn có trách nhiệm và tiếp tục đọc bài học, chi phí cơ hội là điều bạn sẽ làm với thời gian tiết kiệm được. Bạn bỏ lỡ cơ hội để xem American Idol (chương trình “thần tượng Hoa Kỳ”) một vài
CHƯƠNG 1:
KINH TẾ HỌC: NGHIÊN CỨU VỀ CHI PHÍ CƠ HỘI
Mục tiêu chương này
Sau khi đọc chương này bạn có thể:
- Xác định các thuật ngữ then chốt của kinh tế học và chi phí cơ hội. Hiểu được đường ranh giới khả năng sản xuất thể hiện sự đánh đổi trong thực tế cuộc sống.
- Phân biệt giữa chi phí cơ hội tăng dần và chi phí cơ hội không đổi, và hiểu tại sao các chi phí này có thể xảy ra trong thế giới thực tế.
- Đánh giá được ý nghĩa của sự tư duy một cách kinh tế cùng các cạm bẫy hàm chứa.
Chủ đề liên quan
- Kinh tế học và chi phí cơ hội.
- Mô hình hóa chi phí cơ hội bằng Đường biên khả năng sản xuất.
- Các thuộc tính của Đường biên khả năng sản xuất.
- Bức tranh tổng thể.
- Tư duy một cách kinh tế.
- Hiểu chi tiết thêm: Thể hiện chi phí cơ hội không đổi và chi phí cơ hội tăng dần trên Đường biên khả năng sản xuất.
- Tóm tắt.
Chương này đặt nền tảng để hiểu cách tư duy như nhà kinh tế. Nó bắt đầu bằng định nghĩa khoa học kinh tế và khái niệm cơ bản nhất của nó: Chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội được mô hình hóa và giải thích sâu hơn qua sơ đồ Đường biên khả năng sản xuất. Một sơ đồ về nền kinh tế cho chương này và các chương còn lại của quyển sách được trình bày dưới dạng sơ đồ lưu chuyển. Chương này tiếp tục với thảo luận “tư duy kinh tế” là gì. Để hiểu khái niệm này, chúng ta tìm hiểu tại sao các nhà Kinh tế dùng phân tích biên tế, khám phá sự khác biệt giữa phân tích thực chứng và chuẩn tắc, khảo sát các kích thích động lực kinh tế và kết luận bằng việc xem xét các cạm bẫy logic cản trở con đường tư duy kinh tế của chúng ta.
Chương 1 Kinh tế học: Nghiên cứu về chi phí cơ hội
Kinh tế học và chi phí cơ hội
Kinh tế học
Một số nhà nghiên cứu xác định kinh tế học là yêu cầu bó buộc cho giáo dục phổ quát hoặc như một môn học chính, có người xem như “môn khoa học buồn tẻ”, người khác nữa quan niệm đó là việc nghiên cứu về sự phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm, để thỏa mãn các nhu cầu vô hạn của con người. Sự thực thì kinh tế học gồm cả ba khía cạnh trên. Nó nổi tiếng là một môn học khó, các nhà kinh tế luôn luôn làm nản lòng công chúng bằng việc luôn nói rằng mọi vật đều có giá trị của nó, và kinh tế học thực sự là một khoa học xã hội, liên quan đến sự kiện là nhu cầu con người thì lớn hơn khả năng đáp ứng của các nguồn lực.
Trên một cấp độ khác, việc nghiên cứu kinh tế học là việc áp dụng các thuật ngữ và các đồ thị phức tạp vào kinh nghiệm thông thường. Thực ra bạn đã biết nhiều về kinh tế học. Thí dụ bạn biết rằng mọi điều lựa chọn đưa lại các kết quả, rằng có tiền nhiều thì vui vẻ hơn có ít tiền, rằng tuy bạn giàu so với một người nghèo đói, nhưng bạn giàu ít hơn mức bạn mong ước. Dĩ nhiên có nhiều bài học kinh tế bạn chỉ việc học đơn giản qua cuộc sống. Điều bạn không có là một phương pháp tư duy hệ thống về các tư tưởng kinh tế, và đó là điều mà cuốn sách và môn học này cung cấp cho bạn.
Định nghĩa trên làm sáng tỏ vài điều. Trước tiên, trong cuốn sách này mọi thuật ngữ có ý nghĩa chuyên biệt của các nhà kinh tế học sẽ được in đậm, với định nghĩa của từ đó được cho dưới dạng thuật ngữ ở ngay trong bài viết, đồng thời ở bên lề cuốn sách. Nếu định nghĩa “dưới dạng ký hiệu” thay vì tiếng Anh thông thường, bạn cũng sẽ thấy phần diễn dịch bằng tiếng Anh kèm theo. Hai thuật ngữ trong định nghĩa này cần làm rõ ràng vì chúng có ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà kinh tế học. Đầu tiên, bạn thấy có từ “khan hiếm”. Một vật thì
(Nội dung ở lề)
Kinh tế học
Nghiên cứu sự phân bổ nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu vô hạn của con người.
Chương 1 Kinh tế học: Nghiên cứu về chi phí cơ hội
khan hiếm khi nó không có sẵn một nguồn vô hạn tự do sử dụng. Thứ hai, một nguồn lực là vật chúng ta hoặc tiêu thụ trực tiếp, hoặc để tạo ra các vật khác mà cuối cùng chúng ta sẽ sử dụng.
Có thể bạn cũng muốn đọc thêm các cuốn sách sau:
Có bốn nguồn lực cơ bản mà xã hội có thể phân bổ: đất đai, lao động, vốn và năng lực của con người. Bất kỳ nguồn lực nào khác như dầu hỏa, sắt thép hay bắp được làm ra cho xã hội sử dụng khi nguồn lực này được phân bổ như một hay nhiều nguồn lực cơ bản, để chi dùng, tạo ra hay gặt hái nguồn lực khác đó.
Các lựa chọn đều có kết quả kèm theo
Trong môn học và với quyển sách này bạn sẽ gặp các lựa chọn: Bạn sẽ đọc sách và học hay bạn sẽ ngủ và dự tiệc? May mắn rằng sự lựa chọn này minh họa khái niệm căn bản nhất về kinh tế học: chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội là phương án bị bỏ đi khi thực hiện phương án lựa chọn.
Diễn dịch theo Anh ngữ; chi phí cơ hội là “điều bạn sẽ làm nếu bạn không thực hiện điều bạn đã làm”. Điều quan trọng cần phải ghi nhớ là: “phương án bị bỏ qua” là sự lựa chọn tốt nhất tiếp theo. Nó không phải là tất cả mọi phương án mà “bạn có thể sẽ làm nếu bạn không thực hiện điều bạn đã làm”, nhưng nó là phương án tốt nhất trong các phương án, bởi vì giả định rằng đó là “điều bạn sẽ làm”.
Thí dụ, nếu bạn quyết định vào lúc nào đó ngừng đọc quyển sách này dù bạn chưa hoàn thành bài đọc được giao, bạn hàm ý muốn nói rằng bạn thích làm điều gì khác thay vì đọc tiếp cuốn sách. Về phương diện môn học bạn đang tham dự, “Chi phí cơ hội” của một quyết định kém như vậy có thể sẽ là điểm thấp do bạn không hiểu bài đọc.
Không may rằng dù bạn làm gì, bạn không thể thoát khỏi chi phí cơ hội. Nếu bạn có trách nhiệm và tiếp tục đọc bài học, chi phí cơ hội là điều bạn sẽ làm với thời gian tiết kiệm được. Bạn bỏ lỡ cơ hội để xem American Idol (chương trình “thần tượng Hoa Kỳ” hoặc
(Nội dung ở lề)
Khan hiếm
Không có được tự do theo mong muốn và nguồn lực không vô hạn
Nguồn lực
Yếu tố được chi dùng để tạo ra các sản phẩm tiêu dùng cuối cùng.
Chi phí cơ hội
Phương án đã bỏ qua khi lựa chọn phương án hiện tại
Chương 1 Kinh tế học: Nghiên cứu về chi phí cơ hội
xem lại cuốn phim, hoặc để ngủ, hoặc để học môn nào khác. Điều bạn thích làm nhất trong các cơ hội kể trên chính là chi phí cơ hội của việc đọc sách).
Mô hình hoá chi phí cơ hội bằng Đường biên khả năng sản xuất
Trực giác có được từ Đồ thị đầu tiên
Khái niệm chi phí cơ hội có thể minh họa thêm bằng việc xem đường biên khả năng sản xuất. Đồ thị ở Hình 1-1 là đồ thị đầu tiên trong hơn 100 đồ thị bạn có thể thấy trong quyển sách này. Nó là ví dụ về một mô hình, là sự đơn giản hóa về thế giới thực có thể dùng để giải thích về thế giới thực. Đường biên liên quan đến các sản lượng có thể được sản xuất trong một xã hội toàn dung nhân lực.
(Mô tả biểu đồ Hình 1-1)
Biểu đồ có trục tung (dọc) là Soda, trục hoành (ngang) là Pizza. Một đường thẳng nối từ điểm S trên trục tung xuống điểm P trên trục hoành.
(Nội dung ở lề)
Đường biên khả năng sản xuất
Đồ thị liên hệ số lượng các sản phẩm khác nhau có thể được sản xuất trong một xã hội toàn dung
Hình 1-1:
Đường biên khả năng sản xuất: điểm khởi đầu
Mô hình
Sự đơn giản hóa về thế giới thực có thể vận dụng để giải thích thế giới thực
Giả định đơn giản hóa
Giả định có vẻ thô thiển nhưng cho phép giải thích rõ hơn
(Nội dung chính dưới biểu đồ)
Vì bảng phấn và trang sách chỉ có hai chiều, việc giải thích của chúng ta bị hạn chế. Điều này cho cơ hội đầu tiên để giới thiệu về một “giả định đơn giản hóa”. Một giả định đơn giản hóa là giả định tuy có vẻ thô thiển nhưng nó cho phép giải thích rõ ràng hơn. Một giả định tốt có tính chất là các kết luận rút ra từ nó cũng có giá trị trong trường hợp phức tạp hơn. Chúng ta sẽ có vài giả định đơn giản hóa đối với đường biên khả năng sản xuất. Chúng ta sẽ giả định rằng chỉ có
Chương 1 Kinh tế học: Nghiên cứu về chi phí cơ hội
hai loại hàng hóa trên thế giới, rằng chúng là bánh pizza và nước ngọt, và các hàng hóa này sẽ được sản xuất bằng một số cố định các nguồn lực và công nghệ.
Một đơn giản hóa khác là giả định có năm loại người trong thế giới: (1) người sản xuất bánh pizza giỏi nhưng sản xuất Soda kém (2) người sản xuất pizza khá giỏi nhưng sản xuất Soda không giỏi bằng (3) người sản xuất được cả hai hàng hóa (4) người sản xuất soda giỏi nhưng sản xuất pizza không giỏi bằng, và (5) người sản xuất soda thật giỏi nhưng sản xuất pizza kém.
Điểm khởi đầu của đường biên khả năng sản xuất
Nếu chúng ta tưởng tượng nguồn lực của chúng ta là thời gian của các công nhân, nó có thể được tiêu thụ trực tiếp dưới dạng thời gian nhàn rỗi của họ, hoặc có thể phối hợp với các nguồn lực khác để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Nguồn lực này cũng khan hiếm vì không có số lượng người làm việc vô hạn, số lượng người hiện có chỉ có thể làm khối lượng công việc như vậy, họ sẽ không làm nếu không được trả lương, và chỉ có số lượng soda nhất định được sản xuất ra – ngay khi tất cả con người trên hành tinh dùng cả đời để sản xuất soda. Dĩ nhiên điều này vẫn đúng nếu áp dụng nguồn lực khan hiếm để sản xuất pizza. Chỉ có khối lượng pizza nhất định có thể được sản xuất nếu mọi người trên hành tinh đều sản xuất pizza. Nhận thức về sự khan hiếm cho ta điểm khởi đầu và điểm cuối cùng trong Hình 1-1.
Điểm S trong Hình 1-1 thể hiện vị trí mà mọi nguồn lực đều dành để sản xuất soda; điểm P thể hiện tình huống mà mọi nguồn lực đều dành để sản xuất pizza. Cả hai trường hợp mọi nguồn lực trên thế giới đều dành để sản xuất một loại hàng hóa cụ thể, và việc sản xuất bị giới hạn. Nó bị giới hạn bởi khả năng của con người, số lượng người và máy móc có để trợ giúp con người thực hiện công việc. Như vậy cần nhớ rõ là đường biên khả năng sản xuất cho chúng ta một chuỗi các lựa chọn. Chúng ta chỉ có thể có một lựa chọn trong chuỗi đó.

