Trong xã hội hiện đại, giao tiếp không chỉ là hành vi trao đổi thông tin, mà còn là nghệ thuật ứng xử, là chìa khóa giúp mỗi cá nhân khẳng định vị trí và phát triển sự nghiệp. Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ngày càng được coi trọng trong giáo dục và đào tạo. Để đáp ứng nhu cầu đó, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã biên soạn và xuất bản Giáo trình Kỹ năng giao tiếp (Nhà xuất bản Hà Nội – 2005). Đây là bộ tài liệu chính thống, phục vụ giảng dạy trong các trường Trung học chuyên nghiệp (THCN), đồng thời là nguồn tham khảo giá trị cho đông đảo bạn đọc quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng mềm.












Nội dung nổi bật của giáo trình
Giáo trình Kỹ năng giao tiếp được thiết kế dựa trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời kế thừa những kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình giảng dạy, nghiên cứu. Nội dung sách được trình bày khoa học, dễ tiếp cận, bao gồm:
- Nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp
Làm rõ khái niệm, bản chất, vai trò của giao tiếp trong đời sống và công việc; phân tích yếu tố ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và bối cảnh trong giao tiếp. - Kỹ năng ứng xử trong môi trường học tập và nghề nghiệp
Trang bị cho học sinh, sinh viên cách giao tiếp lịch sự, tôn trọng, biết lắng nghe và phản hồi trong học đường, công sở và các quan hệ xã hội. - Phương pháp thuyết trình và đàm phán
Hướng dẫn xây dựng nội dung thuyết trình, rèn luyện khả năng trình bày logic, thuyết phục trước tập thể và kỹ năng thương lượng hiệu quả. - Các tình huống minh họa thực tiễn
Đưa ra ví dụ cụ thể trong giao tiếp học đường, trong công việc, trong xã hội để người học vận dụng trực tiếp.
Ý nghĩa và giá trị thực tiễn
Điểm nổi bật của giáo trình không chỉ nằm ở kiến thức lý thuyết, mà còn ở tính ứng dụng cao. Người học sau khi nghiên cứu tài liệu sẽ:
- Tự tin trong giao tiếp, biết cách biểu đạt quan điểm rõ ràng, mạch lạc.
- Hiểu và vận dụng các nguyên tắc lắng nghe – phản hồi, từ đó tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp.
- Phát triển năng lực làm việc nhóm, giải quyết xung đột trong học tập và nghề nghiệp.
- Xây dựng phong cách giao tiếp chuyên nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh trong sự nghiệp.
Đặc biệt, giáo trình phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau: học sinh – sinh viên THCN, giảng viên, người đi làm, và cả những ai mong muốn cải thiện kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày.
Tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong thời đại mới
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kỹ năng chuyên môn thôi chưa đủ để thành công. Người lao động cần thêm kỹ năng mềm, đặc biệt là giao tiếp, để thích nghi với môi trường làm việc đa văn hóa, đa ngành nghề. Một cá nhân có khả năng giao tiếp tốt sẽ dễ dàng mở rộng quan hệ, tạo dựng niềm tin và nắm bắt cơ hội nghề nghiệp. Vì vậy, Giáo trình Kỹ năng giao tiếp PDF chính là hành trang không thể thiếu cho thế hệ trẻ, góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Bài mở đầu
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA MÔN HỌC
1. Vị trí và tính chất của môn học
Môn học kỹ năng giao tiếp thuộc nhóm các môn học cơ sở chuyên ngành trong chương trình đào tạo của ngành nghiệp vụ thư ký văn phòng ở bậc trung học chuyên nghiệp. Nó cũng rất hữu ích đối với học sinh theo học nhiều chuyên ngành khác, chẳng hạn như quản trị kinh doanh, du lịch v.v. Môn học này được bố trí sau các môn cơ sở như: chính trị học, pháp luật học đại cương và tâm lí học. Việc nghiên cứu môn học Kỹ năng giao tiếp sẽ phục vụ đắc lực cho các môn học chuyên ngành của ngành nghiệp vụ văn phòng, đặc biệt là môn “Nghiệp vụ thư ký văn phòng”.
Kỹ năng giao tiếp vừa là môn học lý thuyết, vừa là môn học thực hành. Trong quá trình học, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản về giao tiếp, ứng xử, đồng thời thực hành để rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức môn học vào các tình huống giao tiếp hằng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp sau này.
2. Mục tiêu của môn học
- Về kiến thức: Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về giao tiếp và ứng xử theo truyền thống dân tộc và theo thông lệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay.
- Về kỹ năng: Hình thành ở học sinh các kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng phân tích, đánh giá các quan hệ giao tiếp một cách hợp lý, trên cơ sở đó học sinh có thể hoàn thiện hoạt động giao tiếp của mình;
- Kỹ năng sử dụng tối ưu các phương tiện giao tiếp, bao gồm phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ;
- Kỹ năng thiết lập, phát triển, củng cố các mối quan hệ cần thiết trong cuộc sống cũng như trong hoạt động nghề nghiệp trong tương lai;
- Kỹ năng vận dụng kiến thức của môn học vào công tác văn phòng, giải quyết tốt công việc của một nhân viên văn phòng, một người thư ký, như: viết thư tín, gọi và trả lời điện thoại, tiếp khách, tổ chức cuộc họp, hội nghị, tham gia thương lượng v.v.
- Về thái độ: Giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của việc trở thành một người giao tiếp giỏi, trên cơ sở đó hình thành ở các em thái độ đúng đắn đối với môn học cũng như với việc rèn luyện các phẩm chất giao tiếp nghề nghiệp của một nhân viên văn phòng, một người thư ký.
3. Yêu cầu của môn học
Học tập, nghiên cứu môn học kỹ năng giao tiếp, học sinh cần:
- Nắm được bản chất, các khía cạnh của quá trình giao tiếp: truyền thông, nhận thức và ảnh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp, đặc điểm của giao tiếp trong công tác văn phòng;
- Nắm được những nét riêng, những phong tục, tập quán của dân tộc cũng như những nguyên tắc, những thông lệ quốc tế trong giao tiếp, ứng xử hiện đại;
- Nắm được những nguyên tắc, những lý luận cơ bản về giao tiếp trực tiếp, giao tiếp qua thư tín, điện thoại v.v.;
- Tích cực, chủ động trong học tập, đặc biệt là trong giờ học thực hành để hình thành các kỹ năng giao tiếp, đồng thời không ngừng trau dồi, rèn luyện chúng cả trong đời sống thường nhật để nâng chúng lên thành kỹ xảo, nghĩa là thống lĩnh nghệ thuật giao tiếp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
1. Đối tượng nghiên cứu của môn học giao tiếp
Môn Kỹ năng giao tiếp nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:
- Bản chất, đặc điểm của quá trình giao tiếp;
- Các loại hình giao tiếp và đặc trưng của chúng;
- Các hiện tượng tâm lí và tâm lí – xã hội diễn ra trong giao tiếp, trong đó chủ yếu là các quá trình trao đổi thông tin, nhận thức, cảm xúc và ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp;
- Các kỹ năng, kỹ xảo giao tiếp;
- Hiệu quả và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình giao tiếp.
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề này, môn học kỹ năng giao tiếp giúp mỗi chúng ta nâng cao văn hoá giao tiếp, ứng xử của bản thân và là tiền đề cho sự thành đạt của chúng ta trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp.
2. Phương pháp nghiên cứu môn học
Để học tập tốt môn Kỹ năng giao tiếp, học sinh có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Dưới đây là một số phương pháp cơ bản.
2.1. Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp này đòi hỏi chúng ta lưu ý hai vấn đề khi phân tích, lý giải một hành vi giao tiếp cụ thể:
- Thứ nhất, không có thế lực siêu tự nhiên nào mà chính là hiện thực xã hội, các quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế quyết định hành vi giao tiếp của con người.
Hành vi giao tiếp của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố, như: hoàn cảnh, tình huống, tâm lí, phong tục, tập quán, truyền thống v.v. Các yếu tố tâm lí như nhu cầu, động cơ, mục đích của các chủ thể giao tiếp quy định hành vi giao tiếp của họ. Nhưng chúng không phải do thần linh, thượng đế hay một thế lực siêu tự nhiên nào khác sinh ra, mà tâm lí thực chất là hiện thực của cuộc sống được con người phản ánh vào trong đầu óc của mình. - Thứ hai, mỗi hành vi giao tiếp chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, vì vậy không được tách rời, cô lập hành vi giao tiếp mà phải đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ, trong sự ảnh hưởng tác động qua lại với các yếu tố đó mới có thể lý giải nó một cách chính xác và đầy đủ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp đã được công bố, in ấn thành sách hoặc được phổ biến trên những phương tiện thông tin đại chúng khác. Điều này cho thấy, giao tiếp, ứng xử không chỉ là vấn đề hấp dẫn, thiết thực, được nhiều người quan tâm, mà còn là vấn đề rất phức tạp. Trong phạm vi giáo trình này, các tác giả không thể trình bày tất cả tri thức của nhân loại về giao tiếp, ứng xử. Vì vậy, học sinh cần sưu tầm, tham khảo thêm các tài liệu khác để hoàn thiện hơn nữa vốn hiểu biết của mình.
2.3. Phương pháp quan sát
Kỹ năng giao tiếp là môn học về cuộc sống đời thường đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh chúng ta, về quan hệ người – người, về ứng xử giữa con người với con người. Chính vì vậy, học tập môn kỹ năng giao tiếp không chỉ là học tập qua sách vở mà còn phải học tập trong cuộc sống, thông qua cuộc sống. Nghĩa là chúng ta phải chú ý quan sát lời nói, hành vi, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, cách ứng xử, cách ăn mặc… của những người xung quanh và cả của bản thân (tự quan sát), phân tích, đánh giá, so sánh chúng với những gì tiếp thu được qua sách vở và tự rút ra cho mình những kết luận cần thiết. Đây cũng chính là một trong những điều kiện cơ bản để chúng ta có thể nhanh chóng tiến bộ và thành công trong giao tiếp.
III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC
Có thể chia những nội dung cơ bản của môn học kỹ năng giao tiếp thành hai phần: phần chung và phần riêng. Phần chung giới thiệu những kiến thức chung về giao tiếp, như: khái niệm, vai trò, chức năng, cấu trúc của giao tiếp; các phương tiện giao tiếp v.v. Phần này bao gồm các chương: 1, 2, 3, 4, 5 và 11. Phần riêng, gồm các chương: 6, 7, 8, 9 và 10, đi vào tìm hiểu từng loại hình giao tiếp cụ thể, chẳng hạn như giao tiếp trực tiếp, giao tiếp qua điện thoại, thư tín v.v. Ở đa số chương, mỗi chương cũng có hai phần: phần lý luận và phần kỹ năng. Phần lý luận trình bày những lý thuyết, những nguyên tắc, những đặc điểm chung làm cơ sở cho phần kỹ năng. Còn phần kỹ năng giới thiệu quy trình, cách thức, phương pháp để tổ chức và tiến hành một cuộc tiếp xúc có hiệu quả. Cụ thể, những nội dung cơ bản của môn học Kỹ năng giao tiếp như sau:
- Chương 1: Khái quát chung về giao tiếp;
- Chương 2: Cấu trúc của giao tiếp;
- Chương 3: Các phương tiện giao tiếp;
- Chương 4: Phong cách giao tiếp;
- Chương 5: Các kỹ năng giao tiếp cơ bản;
- Chương 6: Giao tiếp trực tiếp;
- Chương 7: Thương lượng;
- Chương 8: Giao tiếp qua điện thoại;
- Chương 9: Giao tiếp qua thư tín;
- Chương 10: Giao tiếp văn phòng;
- Chương 11: Văn hoá giao tiếp của người Việt Nam và người nước ngoài.
Để giúp học sinh đánh giá kết quả học tập của mình, đồng thời giúp củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng, ở đầu mỗi chương đều có nêu mục tiêu và nội dung tóm tắt của chương, ở cuối mỗi chương có phần câu hỏi và bài tập tình huống để thực hành. Ngoài ra, cuối giáo trình còn có phần phụ lục, trong đó hướng dẫn giải hoặc đưa ra đáp án bài tập tình huống và giới thiệu một số trắc nghiệm giao tiếp. Để các bài tập tình huống phát huy được hiệu quả tối đa, học sinh chỉ nên xem phần hướng dẫn ở cuối cuốn sách sau khi đã thử giải những bài tập này. Hơn nữa, mỗi tình huống đều có thể có nhiều phương án giải quyết, phần hướng dẫn chỉ nêu phương án mà kinh nghiệm cho thấy là tối ưu nhất.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO TIẾP
Mục tiêu
Sau khi học xong chương này, học sinh có thể:
- Hiểu được khái niệm giao tiếp, chức năng của giao tiếp;
- Xác định được một hiện tượng có phải là giao tiếp hay không;
- Thấy được tầm quan trọng của việc trở thành một người giao tiếp giỏi.
Tóm tắt nội dung
Có thể bạn cũng muốn đọc thêm các cuốn sách sau:
- Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định.
- Giao tiếp có vai trò quan trọng đối với xã hội, cá nhân và trong công tác văn phòng:
- Đối với xã hội: Giao tiếp là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội;
- Đối với cá nhân: Giao tiếp là điều kiện của sự hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách của cá nhân; nhiều nhu cầu của cá nhân chỉ được thoả mãn trong giao tiếp;
- Trong công tác thư ký văn phòng: Giao tiếp giỏi là điều kiện thành công của một người thư ký, một nhân viên văn phòng.
- Giao tiếp có nhiều chức năng xã hội và tâm lí quan trọng, đó là: chức năng thông tin, chức năng tổ chức, phối hợp hành động, chức năng điều khiển, chức năng phê bình và tự phê bình, chức năng động viên, khích lệ, chức năng thiết lập, phát triển và củng cố các mối quan hệ, chức năng cân bằng cảm xúc và chức năng hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách.
- Giao tiếp được phân ra thành nhiều loại:
- Theo tính chất của tiếp xúc, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp;
- Theo quy cách, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp chính thức và giao tiếp không chính thức;
- Theo vị thế, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp ở thế mạnh, giao tiếp ở thế cân bằng và giao tiếp ở thế yếu;
- Theo số lượng người tham gia, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp giữa hai cá nhân, giao tiếp giữa cá nhân và nhóm, giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm và giao tiếp giữa các nhóm.
12
I. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP
1. Giao tiếp là gì?
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng: “Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỷ sứ”.
Trong quá trình sống và hoạt động, giữa chúng ta với người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ. Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống như cha mẹ – con cái, ông bà – cháu chắt, anh em, họ hàng; quan hệ hành chính – công việc như: thủ trưởng – nhân viên, nhân viên – nhân viên; quan hệ tâm lí như: bạn bè, thiện cảm, ác cảm v.v… Trong các mối quan hệ đó thì chỉ một số ít là có sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng chào đời (chẳng hạn, quan hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp.
Vậy, giao tiếp là gì?
Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định.
Ví dụ: Giám đốc gặp gỡ đối tác, trưởng phòng trò chuyện với nhân viên, bạn bè thư từ cho nhau…
2. Vai trò của giao tiếp
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, trong đời sống của mỗi con người và cả trong công tác thư ký văn phòng.
2.1. Vai trò của giao tiếp trong đời sống xã hội
Đối với xã hội, giao tiếp là điều kiện của sự tồn tại và phát triển xã hội. Xã hội là một tập hợp người có mối quan hệ qua lại với nhau. Chúng ta hãy thử hình dung xem xã hội sẽ như thế nào nếu mọi người tồn tại trong đó không có quan hệ gì với nhau, mỗi người chỉ biết mình mà không biết, không quan tâm, không có liên hệ gì với những người xung quanh? Đó không phải là xã hội mà chỉ là một tập hợp rời rạc những cá nhân đơn lẻ. Mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người trong xã hội còn là điều kiện để xã hội phát triển. Ví dụ, nền sản xuất hàng hoá phát triển được là nhờ có mối liên hệ chặt chẽ giữa…
Kết luận
Giáo trình Kỹ năng giao tiếp PDF là tài liệu học tập chuẩn mực, hữu ích và cần thiết đối với học sinh, sinh viên trung học chuyên nghiệp cũng như mọi cá nhân quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng mềm. Với nội dung khoa học, thiết thực và dễ áp dụng, giáo trình giúp người học tự tin hơn trong giao tiếp, nâng cao năng lực nghề nghiệp và hoàn thiện bản thân.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO TIẾP
Mục tiêu
Sau khi học xong chương này, học sinh có thể:
- Hiểu được khái niệm giao tiếp, chức năng của giao tiếp;
- Xác định được một hiện tượng có phải là giao tiếp hay không;
- Thấy được tầm quan trọng của việc trở thành một người giao tiếp giỏi.
Tóm tắt nội dung
- Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định.
- Giao tiếp có vai trò quan trọng đối với xã hội, cá nhân và trong công tác văn phòng:
- Đối với xã hội: Giao tiếp là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội;
- Đối với cá nhân: Giao tiếp là điều kiện của sự hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách của cá nhân; nhiều nhu cầu của cá nhân chỉ được thoả mãn trong giao tiếp;
- Trong công tác thư ký văn phòng: Giao tiếp giỏi là điều kiện thành công của một người thư ký, một nhân viên văn phòng.
- Giao tiếp có nhiều chức năng xã hội và tâm lí quan trọng, đó là: chức năng thông tin, chức năng tổ chức, phối hợp hành động, chức năng điều khiển, chức năng phê bình và tự phê bình, chức năng động viên, khích lệ, chức năng thiết lập, phát triển và củng cố các mối quan hệ, chức năng cân bằng cảm xúc và chức năng hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách.
- Giao tiếp được phân ra thành nhiều loại:
- Theo tính chất của tiếp xúc, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp;
- Theo quy cách, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp chính thức và giao tiếp không chính thức;
- Theo vị thế, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp ở thế mạnh, giao tiếp ở thế cân bằng và giao tiếp ở thế yếu;
- Theo số lượng người tham gia, giao tiếp được phân ra thành giao tiếp giữa hai cá nhân, giao tiếp giữa cá nhân và nhóm, giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm và giao tiếp giữa các nhóm.
12
I. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP
1. Giao tiếp là gì?
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng: “Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỷ sứ”.
Trong quá trình sống và hoạt động, giữa chúng ta với người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ. Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống như cha mẹ – con cái, ông bà – cháu chắt, anh em, họ hàng; quan hệ hành chính – công việc như: thủ trưởng – nhân viên, nhân viên – nhân viên; quan hệ tâm lí như: bạn bè, thiện cảm, ác cảm v.v…Trong các mối quan hệ đó thì chỉ một số ít là có sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng chào đời (chẳng hạn, quan hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp.
Vậy, giao tiếp là gì?
Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định.
Ví dụ: Giám đốc gặp gỡ đối tác, trưởng phòng trò chuyện với nhân viên, bạn bè thư từ cho nhau…
2. Vai trò của giao tiếp
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, trong đời sống của mỗi con người và cả trong công tác thư ký văn phòng.
2.1. Vai trò của giao tiếp trong đời sống xã hội
Đối với xã hội, giao tiếp là điều kiện của sự tồn tại và phát triển xã hội. Xã hội là một tập hợp người có mối quan hệ qua lại với nhau. Chúng ta hãy thử hình dung xem xã hội sẽ như thế nào nếu mọi người tồn tại trong đó không có quan hệ gì với nhau, mỗi người chỉ biết mình mà không biết, không quan tâm, không có liên hệ gì với những người xung quanh? Đó không phải là xã hội mà chỉ là một tập hợp rời rạc những cá nhân đơn lẻ. Mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người trong xã hội còn là điều kiện để xã hội phát triển. Ví dụ, nền sản xuất hàng hoá phát triển được là nhờ có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng: người sản xuất nắm được nhu cầu của người tiêu dùng, sản xuất ra những loại hàng hoá đáp ứng những nhu cầu đó, nghĩa là được người tiêu dùng chấp nhận và điều này thúc đẩy sản xuất phát triển.
2.2. Vai trò của giao tiếp đối với cá nhân
Trong đời sống của mỗi con người, vai trò của giao tiếp được biểu hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
- Giao tiếp là điều kiện để tâm lí, nhân cách cá nhân phát triển bình thường;
Về bản chất, con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Nhờ có giao tiếp mà mỗi con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập vào cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển chúng thành tài sản riêng của mình. Những trường hợp trẻ em bị thất lạc vào trong rừng, sống với động vật đã cho thấy rằng, mặc dù những đứa trẻ này vẫn có hình hài của con người, nhưng tâm lí và hành vi của các em không phải là của con người. - Trong giao tiếp, nhiều phẩm chất của con người, đặc biệt là các phẩm chất đạo đức, được hình thành và phát triển;
Trong quá trình tiếp xúc với những người xung quanh, chúng ta nhận thức được các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật tồn tại trong xã hội, tức là những nguyên tắc ứng xử: chúng ta biết được cái gì tốt, cái gì xấu; cái gì đẹp, cái gì không đẹp; cái gì nên làm, cái gì cần làm, cái gì không được làm và từ đó mà thể hiện thái độ và hành động cho phù hợp. Những phẩm chất như khiêm tốn hay tự phụ, lễ phép hay hỗn láo, ý thức nghĩa vụ, tôn trọng hay không tôn trọng người khác … chủ yếu được hình thành, phát triển trong giao tiếp. Người xưa nói: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” cũng là vì mẹ và bà hay chiều con, chiều cháu, thường làm thay chúng những việc mà đúng ra là chúng phải làm và có thể làm được, đáp ứng một cách thiếu nguyên tắc những đòi hỏi của chúng, dẫn đến việc chúng không nhận thức được giới hạn cần phải dừng lại trong các yêu cầu, đòi hỏi của mình, từ đó sẽ có những hành vi, đòi hỏi vượt giới hạn cho phép, tức là “hư”, “hỗn láo”. - Giao tiếp thoả mãn nhiều nhu cầu của con người;
Những nhu cầu của chúng ta như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được những người xung quanh quan tâm, chú ý, nhu cầu được hoà nhập vào những nhóm xã hội nhất định … chỉ được thoả mãn trong giao tiếp. Chúng ta sẽ cảm thấy như thế nào nếu tự giam mình dù chỉ một ngày trong phòng, không gặp gỡ, tiếp xúc với ai, không liên hệ với ai qua điện thoại,
Các sách & tài liệu khác cùng chủ đề:
- SÁCH HỌC LÀM LÃNH ĐẠO PDF Tải Miễn Phí – LEARNING TO LEAD PDF
- CẨM NANG LẬP KẾ HOẠCH KINH DOANH THÀNH CÔNG – PDF Tải Miễn Phí
- SÁCH QUY TRÌNH LÀM REELS FANPAGE CÔNG NGHIỆP TỪ A-Z PDF Tải Miễn Phí
- SÁCH MÊ HOẶC PDF Tải Miễn Phí – ENCHANTMENT GUY KAWASAKI
- SÁCH THUẬT QUẢN LÝ THỜI GIAN PDF Tải Miễn Phí– BRIAN TRACY PDF

