Sách tự học tiếng Thái giao tiếp trong mọi tình huống PDF FREE

Sách tự học tiếng Thái giao tiếp trong mọi tình huống PDF FREE

Sách tự học tiếng Thái giao tiếp trong mọi tình huống PDF FREE là một trong những Tài liệu và Sách học tiếng Anh, Tài liệu và Sách học tiếng Thái Lan đáng đọc và tham khảo. Hiện Sách tự học tiếng Thái giao tiếp trong mọi tình huống PDF FREE đang được Tư Vấn Tuyển Sinh chia sẻ miễn phí dưới dạng file PDF.

=> Bạn chỉ cần nhấn vào nút “Tải tài liệu” ở phía bên dưới là đã có thể tải được về máy của mình rồi.

Lưu ý quan trọng

Bên dưới đây mình có spoil 1 phần nội dung trong tài liệu để bạn tham khảo trước về nội dung tài liệu / Sách. Để xem được full nội dung thì bạn hãy nhấn vào nút “Link tải PDF” ở trên để tải bản đầy đủ về nhé

NGUYÊN ÂM

Phần lớn các nguyên âm của tiếng Thái gần tương dương với tiếng Việt. Các nguyên âm này không đòi hỏi phải nghe và thực tập kỹ, nếu bạn biết được các nguyên âm của tiếng Pháp và tiếng Ý sẽ có tác dụng tốt.

Cần phân biệt giữa nguyên âm dài và ngắn, được biểu thị bằng cách gấp đôi nguyên âm hoặc có thêm âm ‘h’, sự khác nhau này có thể thay đổi ý nghĩa của từ (giống như ‘ship’ và ‘sheep’ tùy thuộc vào nguyên âm có được kéo dài hay không trong tiếng Anh).

a như ‘u’ trong từ ‘chu’
aa như ‘a’ trong từ ‘cha’; kéo dài gấp đôi a
ae như ‘a’ trong từ ‘bát’
ai như ‘ai’ trong từ ‘tai’
ao như ‘au’ trong trong từ ‘nâu’
aw như ‘ơ’ trong từ ‘do’
e như ‘e’ trong từ ‘sen’
eh như ‘a’ trong từ ‘hay’, nhưng với mỗi bẹt; kéo dài gấp đôi e
eu như ‘ơ’ trong từ ‘tơ’
eua ơ + a
i như ‘i’ trong từ ‘ti’
ia như ‘i’ trong từ ‘phi’; kéo dài gấp đôi i
ii như ‘ia’ trong từ ‘tia’
iaw như ‘iô’ trong từ ‘tiô’
iu như ‘iu’ trong từ ‘xiu’
o như ‘ơ’ trong từ ‘tôn’, nhưng ngắn hơn
oh như ‘âu’ trong từ ‘lâu’
oe i + i
u như ‘u’ trong từ ‘cung’, nhưng ngắn hơn
uu như ‘u’ trong từ ‘chung’; kéo dài hơn u
ua u + a

uai u + ai
uây a + ai
ui u + i
uhy như ‘ơi’ trong từ ‘soi’
uay aw + i
aew ae + u (với môi tròn)

PHỤ ÂM

Các phụ âm âm ‘k’, ‘p’ và ‘t’ trong tiếng Thái, bạn có thể phát âm các phụ âm này có hoặc không có hơi để phân biệt các âm khác nhau. Thí dụ, âm ‘k’ trong từ lék không có âm gió; khi nói phải ‘nuốt’ phụ âm cuối.

Âm gió được biểu thị bằng chữ ‘h’. Thí dụ, âm ‘k’ trong từ inkhão được phát âm có gió. Phụ âm ‘ph’ được phát âm là ‘phờ’ có hơi gió). Phụ âm ‘ch’ được phát âm ‘chờ’.

Các phụ âm khác có thể khó phát âm

ng như ‘ng’ trong từ ‘sang’; được dùng như một phụ âm đầu và phụ âm cuối trong tiếng Thái
j như ‘chờ’ cong lưỡi
r như ‘r’ trong từ ‘rắn’, nhưng lưỡi đánh lên vòng
miệng; trong đàm thoại hằng ngày, nó thường được
phát âm như ‘l’ hoặc thậm chí bỏ hoàn toàn.

PHIÊN ÂM CHỮ VIẾT

Việc viết tiếng Thái theo cách viết chữ La Mã là một vấn đề lớn về cách để tồn tại mãi; thực ra cách có hệ thống nào được sáng tạo dù thỏa mãn được cả tình nhất quán và khả năng dễ viết. Chính phủ Thái sử dụng hệ thống phiên âm RTGS làm tài liệu chính thức của chính phủ cho việc phiên âm tiếng Anh và hầu hết các biến âm trên xa lộ. Tuy nhiên, hệ thống phiên âm này không được soạn thảo để dùng cho người muốn học tiếng Thái. Nó không biểu hiện sự khác biệt về tầm quan trọng của việc phát âm. Thí dụ, hệ thống không phân biệt giữa các nguyên âm dài và ngắn; o và aw (cả hai đều biểu thị như o); u và eu (cả hai đều là o); hoặc ch và j (cả hai đều là ch).

Để thực hiện được mục đích này, nhiều từ tiếng Thái (nhất là tên người và địa danh) có cách viết từ tiếng Thái Phạn và tiếng Pali, nhưng cách phát âm âm thực sự có một ít quan hệ với cách viết từ chữ La Mã hóa theo tiếng Thái Phạn hoặc tiếng Pali gốc. Vì thế, các từ Nakhon sri Thammarat, nếu được phiên âm đúng theo từng chữ sẽ là Nagora Sri Dhammaraja. Nếu bạn muốn phát âm theo cách phiên âm của tiếng Pali, rất ít người Thái có thể hiểu được cách phát âm của bạn.

Ngoài thực tế này, các biên bản của tiếng địa phương có thể thấy ở các băng hiệu ở khách sạn, các biển báo trên đường phố, phà đò, v.v… Thí dụ, từ Thawi được viết là tavi, Thawee, Thavi và Tavee. Người Thái thường dùng các từ tiếng Anh không có âm tương đương trong tiếng Thái: Faisai thay cho phaisan, Bhumibol thay cho phumiphon, Vanich thay cho wanit, Vibhavadi thay cho wiphawadi. Đôi khi chúng còn được pha trộn cách phiên âm của tiếng Phạn với cách phát âm tiếng Thái, như trong King Bhumibol được phát âm là phumiphon.

Sau đây là phần tóm lược về các từ thường dễ gây lầm lẫn mà bạn có thể gặp phải khi cố phát âm các từ tiếng Thái được phiên âm.

  • Không có âm trong vòng tiếng Thái, vì vậy Sukhumvit được phát âm là Sukhumwit và Vieng, nghe như được phát âm là wiang.
  • Các chữ l và r ở cuối từ luôn luôn được phát âm là n; vì thế, satul được phát âm là satun và wihar được phát âm là wịhaan. Ngoại trừ, khi er hoặc ur được dùng để chỉ âm oe, như ở từ ampher, được phát âm là amshoe; hoặc khi or được dùng thay cho âm aw như ở từ porn, được phát âm là phawn.
  • Các âm l và r thường được dùng thay cho nhau khi nói và điều này cũng thấy ở trong một số từ phiên âm. Thí dụ, naliga (cái đồng hồ) có thể thấy được viết là nariga và raat naa (một món mỉ) có thể được viết lại là laat naa hoặc lat na.
  • Chữ u thường được dùng để chỉ âm rút ngắn, như ở tam nam, có thể thấy là tum và num. Nó cũng được dùng để chỉ âm eu, như từ beung (cầm lấy) được viết là bung.
  • Theo ngữ âm, tất cả các tiếng Thái đều được phát âm với một nguyên âm cuối (a, e, i, o, u), bốn nguyên âm (y, w) hoặc một trong 3 phụ âm (p, t và k) nói trên ở trên.
  • Các từ được phiên âm với các tận ch, j, s hoặc nhur –panich, -raj, -chuanpis và –had sẽ phát âm âm như chúng có tận là t, nhur – panit; -rat nhur –chuanpit và –hat. Cũng như thế, g sẽ được phát âm là k (ralug sẽ là raluk) và b được phát âm là p (thab tro thakhon thap).

Sau đây là một số từ đặc biệt thường được viết theo cách dễ làm phát âm sai.

Cách viết thông thườngPhát âmNghĩa
bungbeungao nước/dầm lầy
ko/kohkawđảo
muangmeuangthành phố
nakhon/nakornnakhawnthành phố lớn
rajathường là raatcha ở đầu từ, raat ở cuối từhoàng gia
srisiisự tốt đẹp

Tự học giao tiếp tiếng Thái

PHIÊN ÂM CHỮ VIẾT

Việc viết tiếng Thái theo cách viết chữ La Mã là một vấn đề còn tồn tại mãi; thực ra chưa có hệ thống nào được sáng tạo đủ thỏa mãn được cả tính nhất quán và khả năng dễ viết. Chính phủ Thái sử dụng hệ thống phiên âm RTGS làm tài liệu chính thức của chính phủ cho việc phiên âm tiếng Anh và hầu hết các biển báo trên xa lộ. Tuy nhiên, hệ thống phiên âm này không được soạn thảo để dùng cho người muốn học tiếng Thái. Nó không biểu hiện sự khác biệt về tầm quan trọng của việc phát âm. Thí dụ, hệ thống này không phân biệt giữa các nguyên âm dài và ngắn; o và aw (cả hai đều biểu thị như o); u và eu (cả hai đều là ơ); hoặc ch và j (cả hai đều là ch).

Để thực hiện được mục đích này, nhiều từ tiếng Thái (nhất là tên người và địa danh) có các cách viết từ theo tiếng Phạn và tiếng Pali, nhưng cách phát âm thực sự có một ít quan hệ với cách viết từ được La Mã hóa theo từ tiếng Phạn hoặc tiếng Pali gốc. Vì thế, các từ nakhon sii thammarat, nếu được phiên âm đúng theo từng chữ sẽ là Nagara Sri Dhammaraja. Nếu bạn muốn phát âm theo cách phiên âm của tiếng Pali, rất ít người Thái có thể hiểu được cách phát âm của bạn.

Ngoài thực tế này, các biến thể của tiếng địa phương có thể thấy ở các bảng hiệu ở khách sạn, các biển báo trên đường phố, thực đơn, v.v … Thí dụ, từ thawi được viết khác đi là tavi, thawee, Thavi và Tavee. Người Thái thường dùng các từ tiếng Anh không có âm tương đương trong tiếng Thái: Faisal thay cho phaisan, Bhumibol thay cho phumiphon, Vanich thay cho wanit, Vibhavadi thay cho wiphawadi. Đôi khi chúng còn được pha trộn cách phiên từ của tiếng Phạn với cách phát âm tiếng Thái, như trong King Bhumibol được phát âm là phumiphon.

Sau đây là phần tóm lược về các từ thường dễ gây lầm lẫn mà bạn có thể gặp phải khi cố phát âm các từ tiếng Thái được phiên âm.

11

trong mọi tình huống

• Không có âm v trong tiếng Thái, vì vậy từ Sukhumvit được phát âm là sukhumwit và Vieng, nghe như được phát âm là wiang.

• Các chữ l và r ở cuối từ luôn luôn được phát âm là n; vì thế, satul được phát âm là satun và wihar được phát âm là wihaan. Ngoại trừ, khi er hoặc ur được dùng để chỉ âm oe, như ở từ ampher, được phát âm là amphoe; hoặc khi or được dùng thay cho âm aw như ở từ porn, được phát âm là phawn.

• Các âm l và r thường được dùng thay cho nhau khi nói và điều này cũng thấy ở trong một số từ phiên âm. Thí dụ, naliga (cái đồng hồ) có thể thấy được viết là nariga và râat naa (một món mì) có thể được viết lại là laat naa hoặc lat na.

• Chữ u thường được dùng để chỉ âm rút ngắn, như ở tam hoặc nam, có thể thấy là tum và num. Nó cũng được dùng để chỉ âm eu, như khi từ beung (đầm lầy) được viết là bung.

• Theo ngữ âm, tất cả các từ tiếng Thái đều được phát âm với một nguyên âm cuối (a, e, i, o, u), bán nguyên âm (y, w) hoặc một trong 3 phụ âm (p, t và k) nói đến ở trên.

• Các từ được phiên âm với các tận ch, j, s hoặc d như –panich, -raj, -chuanpis và –had sẽ phát âm như chúng có tận là t, như –panit; -rat như –chuanpit và –hat. Cũng như thế, g sẽ được phát âm là k (ralug sẽ là raluk) và b được phát âm là p (thab trở thành thap).

Sau đây là một số từ đặc biệt thường được viết theo các cách dễ làm phát âm sai.

Cách viết thông thường Phát âm Nghĩa
bung beung ao nước/đầm lầy
ko/koh kaw đảo
muang meuang thành phố
nakhon/nakorn nákhawn thành phố lớn
raja thường là râatchá ở đầu từ, râat ở cuối từ hoàng gia
sri sii sự tốt đẹp

12

Tự học giao tiếp tiếng Thái

Thanh điệu เสียง

Thanh điệu lên cao ở âm tiết được phát ra, thường xác định rõ ý nghĩa của nó. Thí dụ, tùy thuộc vào thanh điệu, âm tiết mai có thể có nghĩa là ‘tươi’, ‘cháy’, ‘củi’, ‘không phải sao?’ hoặc ‘không’ mà chúng ta có thể nói câu: mai mài mái mâi mãi, ‘củi tươi không cháy, phải không?’.

Tiếng Thái có 5 thanh điệu: nhẹ, thấp, hạ thấp, cao và lên cao. Phạm vi của tất cả 5 thanh điệu này liên quan đến phạm vi phát âm của người nói; không có độ cao thấp âm thanh nhất định đối với ngôn ngữ này.

• Thanh điệu vừa phải hoặc nhẹ được phát ‘bình âm’ (nghĩa là không lên xuống) ở phạm vi âm thanh vừa phải của người nói. Dấu thanh điệu không được dùng, như ở dii ‘tốt’.

• Thanh điệu thấp cũng phát ‘bình âm’ như thanh điệu nhẹ, nhưng nó được phát âm ở phạm vi âm thanh tương đối thấp của người nói, như ở bàat ‘bạt’ (đơn vị tiền tệ của Thái Lan).

• Thanh điệu hạ thấp được phát ra như là bạn đang nhấn mạnh một từ hoặc gọi tên người nào đó từ xa, như ở mâi, ‘không’.

• Thanh điệu cao là thanh điệu mà người phương tây thường khó phát âm nhất. Nó được phát âm ở phạm vi âm thanh khá cao và đều đều, như ở níi ‘đây’.

• Thanh điệu lên cao được phát ra giống như sự lên giọng trong tiếng Anh, thường diễn tả một câu hỏi ‘Yes?’, như ở sǎam ‘ba’.

13

Tự học giao tiếp tiếng Thái

NGỮ PHÁP ไวยากรณ์

Chương này mô tả sơ lược về ngữ pháp của tiếng Thái – đủ để bạn làm quen với cấu trúc của ngôn ngữ này và giúp bạn có thể kết hợp các cụm từ đơn giản và các câu.

CẤU TRÚC CÂU

Thứ tự từ trong tiếng Thái rất quan trọng: thí dụ, dâi /od0 / được đặt ngay trước động từ để chỉ thì quá khứ, trong khi cùng từ này đứng ngay sau động từ lại có nghĩa là ‘có thể’. Tuy nhiên, mới đầu bạn có thể học thứ tự từ căn bản trong các câu tiếng Thái, giống như tiếng Anh, là chủ ngữ – động từ – bổ ngữ:

Chúng tôi ăn cơm. Rao kin khâo
(chúng tôi ăn cơm)

Bạn học tiếng Thái. Khun rian phaasǎa thai
(bạn học ngôn ngữ Thái)

Tuy nhiên, thường không đặt bổ ngữ ở đầu câu để nhấn mạnh:

Tôi không thích cái chén đó. Chaam nán phǒm
/dì-chǎn mâi châwp
(cái chén đó tôi không thích)

Chúng tôi không có hải sản. aahǎan tháleh mâi mii
(hải sản không có)

19

trong mọi tình huống

DANH TỪ

Các danh từ không bao giờ thay đổi hình thức viết. Chúng không thay đổi để chỉ số nhiều và chúng không cần mạo từ, như ‘a’ hoặc ‘the’ trong tiếng Anh:

Căn nhà rộng; bâan yài
Các căn nhà rộng. (nhà rộng)

Tôi là một người lính. Phǒm/dì-chǎn pen tháhǎan
(tôi là lính)

Chúng tôi là những người lính. Rao pen tháhǎan
(chúng tôi là lính)

Bạn có thể thành lập các danh từ bằng các động từ chỉ hành động cụ thể bằng cách thêm kaan vào trước động từ:

đi lại doen thaang
việc đi lại (dt) kaan doen thaang

Bạn có thể thành lập các danh từ bằng các động từ của hành động trừu tượng và từ các tính từ, bằng cách dùng khwaam:

suy nghĩ (đt) khít
tư tưởng (dt) khwaam khít
tốt (tt) dii
lòng tốt (dt) khwaam dii

TỪ PHÂN LOẠI

Trong tiếng Anh đôi khi bạn không thể dùng một từ chỉ số với một danh từ mà bạn phải dùng một từ phụ để “phân loại” danh từ. Các từ này còn được coi như từ đếm. Thí dụ, bạn không có thể.