





**Lời mở đầu**
Từ năm 1990 đến nay, du lịch Việt Nam phát triển nhanh, với lượng khách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng cao với 2 con số (trung bình năm trên 20%). Khách quốc tế tới Việt Nam năm 1990 là 250 nghìn lượt người, năm 2005 là 3,5 triệu lượt người. Tốc độ tăng trưởng gộp là 14 lần. (So sánh lượng khách của năm 2005 với lượng khách của năm 1990). Khách du lịch nội địa năm 1990 là 1 triệu lượt người, năm 2005 là 16 triệu lượt. Tốc độ tăng trưởng gộp là 16 lần. Chính vì vậy, hệ thống kinh doanh du lịch cũng phát triển mạnh mẽ nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của du khách, mang lại doanh thu cho doanh nghiệp và quốc gia. Theo các số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2005 trên cả nước có khoảng 6000 cơ sở kinh doanh lưu trú, 399 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, hơn 10.000 doanh nghiệp lữ hành nội địa. Thu nhập xã hội đạt khoảng 30.000 tỷ đồng. Hoạt động du lịch đã tạo việc làm cho trên 234.000 lao động trực tiếp và khoảng 510.000 lao động gián tiếp. Trong hệ thống kinh doanh du lịch, kinh doanh lữ hành có một vị trí đặc biệt quan trọng, đóng vai trò phân phối sản phẩm du lịch nói riêng và cả các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng: “Kinh doanh lữ hành ở Việt Nam còn nhiều bất cập về lý luận lẫn thực tiễn.” Điều này được thể hiện trong kết quả nghiên cứu cuối năm 2003 của Tổng cục Thống kê Việt Nam: “Trong tổng số khách du lịch quốc tế được điều tra là 6526 người, chiếm 40,9% đi theo hình thức mua chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành. Trong tổng số khách du lịch nội địa được điều tra là 22509 người, chỉ có 2196 người, chiếm 9,8% đi theo hình thức tham chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành”. (Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch năm 2003, NXB Thống kê, Hà Nội, 2004). Để kinh doanh lữ hành có hiệu quả, thể hiện đúng vị trí và vai trò của ngành kinh doanh này thì các nhà kinh doanh lữ hành phải có kiến thức thực tiễn và kỹ năng nghề kinh doanh lữ hành nói riêng.
Ở trường đại học trong hệ thống kiến thức và kỹ năng mà sinh viên ngành quản trị kinh doanh du lịch cần được trang bị, kiến thức và kỹ năng về Đây là môn học cốt yếu của chuyên ngành đào tạo: quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn và quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn. Môn học vừa trang bị những lý luận, phương pháp luận, nhưng đồng thời lại có tính nghiệp vụ, hình thành những kỹ năng quản trị kinh doanh, kỹ năng tác nghiệp cho sinh viên trong lĩnh vực kinh doanh du lịch lữ hành và kinh doanh lưu trú và ăn uống. Kiến thức thực trạng trong môn học này là sự tiếp nối các kiến thức đã được trang bị trước đó của sinh viên như các môn học cơ bản, cơ sở, các môn học kinh tế thị trường, quản trị kinh doanh, kinh tế du lịch, quản trị kinh doanh khách sạn. Tập thể giảng viên Khoa Du lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã biên soạn và dựa vào xuất bản lần thứ nhất “Quản trị kinh doanh lữ hành” tháng 11 năm 1998 do PGS.TS. Nguyễn Văn Đính và Thạc sỹ Phạm Hồng Chương đồng chủ biên và sự tham gia biên soạn của cử nhân Nguyễn Văn Mạnh. Xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu của công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành du lịch, Hội đồng thẩm định Giáo trình trình Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã thẩm định giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành tháng 11 năm 1998. Theo kết luận của Hội đồng: “Giáo trình cốt lõi, nội dung tốt và phong phú, phù hợp với nội dung chương trình và mục tiêu đào tạo…, trình bày rõ ràng, dễ hiểu. Tuy nhiên, giáo trình cần sửa chữa và bổ sung thêm để nâng cao hơn nữa tính khoa học, tính hiện đại và tính ứng dụng thực tiễn của Việt Nam trong nội dung của giáo trình”.
Tiếp thu các ý kiến trong kết luận của Hội đồng thẩm định giáo trình ngày 28 tháng 4 năm 2004, các tác giả đã lần lượt biên soạn lần thứ nhất đã thông nhất tổ chức thực hiện hoàn thiện biên soạn giáo trình “Quản trị kinh doanh lữ hành” do TS. Nguyễn Văn Mạnh và TS. Phạm Hồng Chương đồng chủ biên với sự tham gia biên soạn của GS.TS Nguyễn Văn Đính và ThS. Ngô Đức Anh. Giáo trình được biên soạn lần này có sự thay đổi đối với kết cấu và nội dung so với giáo trình xuất bản lần thứ nhất nhằm cung cấp cho người học những kiến thức thực tiễn, hiện đại và nắm bắt phụ lục. Chương mở đầu, chương 10, chương 12 và phần phụ lục do TS. Nguyễn Văn Mạnh biên soạn. Chương 1 và chương 2 do TS. Nguyễn Văn Mạnh và GS.TS. Nguyễn Văn Đính biên soạn. Chương 3, chương 4, chương 6 và chương 7 do TS. Phạm Hồng Chương và TS. Nguyễn Văn Mạnh biên soạn. Chương 8 và chương 11 do TS. Phạm Hồng Chương biên soạn. Chương 5 và chương 9, do Ths. Ngô Đức Anh và TS. Nguyễn Văn Mạnh biên soạn. Lần thứ nhất, cuốn sách được chỉnh sửa và bổ sung dựa trên kết quả của Hội đồng thẩm định giáo trình ở Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong quá trình hoàn thiện, tập thể tác giả đã được sự nhiệt tình của Hội đồng Khoa học Khoa và Nhà trường cũng như sự cộng tác và góp ý của nhiều giảng viên, cán bộ nghiên cứu, cán bộ của trường và ngoài trường, của các nhà quản lý doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở Việt Nam. Lần thứ hai, cuốn sách được chỉnh sửa và bổ sung thêm về kiến thức và cập nhật thông tin về quản lý lữ hành ở Việt Nam. Chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn và xin phép tất cả tài liệu mà chúng tôi đã sử dụng trong quá trình biên soạn giáo trình này. Mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn giáo trình xuất bản lần này không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự phê bình góp ý của các bạn đồng nghiệp, của người học, của tất cả các bạn đọc. Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, các cơ quan quản lý và Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân đã cho xuất bản cuốn sách này. Hà Nội tháng 5 năm 2009 TM/ Tập thể tác giả PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh Trưởng khoa Du lịch và Khách sạn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
**I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC**
Nửa cuối thế kỷ 20, ngành du lịch thế giới đã phát triển nhanh. Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Từ năm 1950 cho đến nay, trung bình mỗi năm du lịch thế giới tăng 7,2% về lượng khách và 12,3% về thu nhập. Năm 1950, lượng khách quốc tế mới đạt 25,3 triệu lượt khách và thu nhập từ du lịch là 2,1 tỷ USD. Con số tương ứng của năm 2005 là 808 triệu lượt khách và 623 tỷ USD. Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới ước tính rằng trong năm 2005 lữ hành và du lịch thế giới đóng góp khoảng 6201,5 tỷ USD vào tổng sản phẩm quốc tế, chiếm 10,6% tổng GDP và tạo ra khoảng 223 triệu việc làm, chiếm tới 8,3% lượng lao động trên thế giới. Mặt khác, ngành du lịch còn là 1 trong 3 ngành kinh tế dẫn đầu về giá trị xuất khẩu (cùng với hai ngành: ngành khai thác và chế biến dầu khí, ngành chế tạo xe hơi).
Là một ngành kinh tế tổng hợp, du lịch đóng vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế khác, cũng phát triển như ngành giao thông, xây dựng, bưu chính viễn thông, ngân hàng… Do đó, ngành công nghiệp du lịch có tác động ảnh hưởng số nhân và hiệu ứng lan toả tràn đầy nhiều hơn so với hầu hết các ngành kinh tế khác. Bên cạnh ý nghĩa về mặt kinh tế, du lịch còn có ý nghĩa to lớn đối với chính trị, xã hội, môi trường sinh thái. Theo dự báo, trong thế kỷ 21 nền kinh tế thế giới sẽ được dẫn dắt bởi 3 ngành hàng đầu đó là công nghệ thông tin, vũ tuyến truyền thông và du lịch. Bước vào thế kỷ 21, ngành du lịch có nhiều thay đổi, bởi tác động của nhiều yếu tố mà các tổ chức du lịch cần phải có sự thay đổi quản lý. Để phát triển du lịch, người ta phải xác định vai trò, vị trí của mỗi thành phần cấu thành ngành du lịch và mỗi quan hệ giữa các thành phần này. Một trong những thành phần cấu thành, ngành rất quan trọng bậc nhất, chiếm
Chương mở đầu
GIỚI THIỆU MÔN HỌC
- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC
Nửa cuối thế kỷ 20, ngành du lịch thế giới đã phát triển nhanh. Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Từ năm 1950 cho đến nay, tính trung bình mỗi năm du lịch thế giới tăng 7,2% về lượng khách và 12,3% về thu nhập. Năm 1950, lượng khách quốc tế mới chỉ đạt 25,3 triệu lượt khách và thu nhập từ du lịch là 2,1 tỷ USD. Con số tương ứng của năm 2005 là 808 triệu lượt khách và 623 tỷ USD. Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới ước tính rằng trong năm 2005 lữ hành và du lịch thế giới đóng góp khoảng 6201,5 tỷ USD vào tổng sản phẩm quốc tế, chiếm 10,6% tổng GDP và tạo ra khoảng 223 triệu việc làm, chiếm tới 8,3% lượng người lao động trên thế giới. Mặt khác, ngành du lịch còn là 1 trong 3 ngành kinh tế dẫn đầu về giá trị xuất khẩu (cùng với hai ngành: ngành khai thác và chế biến dầu khí, ngành chế tạo xe hơi). Là một ngành kinh tế tổng hợp, du lịch đóng vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển như ngành giao thông, xây dựng, bưu chính viễn thông, ngân hàng… Do đó, ngành công nghiệp du lịch có tác động ảnh hưởng số nhân và hiệu ứng lan toả tràn đầy nhiều hơn so với hầu hết các ngành kinh tế khác. Bên cạnh ý nghĩa về mặt kinh tế, du lịch còn có ý nghĩa to lớn đối với chính trị, xã hội, môi trường sinh thái. Theo dự báo, trong thế kỷ 21 nền kinh tế thế giới sẽ được dẫn dắt bởi 3 ngành hàng đầu đó là công nghệ thông tin, vô tuyến truyền thông và du lịch. Bước vào thế kỷ 21, ngành du lịch có nhiều thay đổi bởi sự tác động của nhiều yếu tố mà các tổ chức du lịch cần thiết phải có sự thay đổi quản lý.
Để phát triển du lịch, người ta phải xác định vai trò, vị trí của mỗi thành phần cấu thành ngành du lịch và mối quan hệ giữa các thành phần này. Một trong những thành phần có vai trò quan trọng bậc nhất, chiếm
9
vị trí trung tâm đặc trưng cho ngành du lịch đó là bộ phận kinh doanh lữ hành. Ngành du lịch nói chung và bộ phận kinh doanh lữ hành nói riêng có nhiều biến đổi theo thời gian trong lịch sử phát triển của ngành và lịch sử phát triển kinh tế xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển, hoạt động kinh doanh lữ hành luôn luôn có những hình thức và nội dung mới mang tính đa dạng và phức tạp hơn. Ở các quốc gia có ngành du lịch phát triển mạnh được coi là các cường quốc du lịch như Pháp, Mỹ, Anh, Italia, Tây Ban Nha thì kinh doanh lữ hành được đặc biệt coi trọng và phát triển cả về lượng và chất của bộ phận này trong ngành du lịch. Ví dụ, tại Mỹ các cơ sở kinh doanh lữ hành tính từ cơ sở thấp nhất có doanh thu ít nhất 3 triệu USD/năm đến các cơ sở doanh thu trên 50 triệu USD/năm đã có trên 30 nghìn doanh nghiệp, trong đó có trên 2 nghìn doanh nghiệp chuyên kinh doanh chương trình du lịch trọn gói, hàng năm tổ chức thực hiện trên 500 nghìn chuyến du lịch với số khách tham gia trên 25 triệu. Tại Pháp, có trên 3,5 nghìn doanh nghiệp, trong đó có hơn 50% doanh nghiệp chuyên kinh doanh chương trình du lịch. Tại Anh, có trên 3 nghìn doanh nghiệp, trong đó có trên 900 doanh nghiệp chuyên kinh doanh chương trình du lịch. Tại Nhật có trên 11 nghìn doanh nghiệp lữ hành, trong đó có 8 doanh nghiệp lớn chiếm trên 70% thị trường du lịch Nhật. (Nguyễn Văn Mạnh (2002) Luận án Tiến sỹ Kinh tế, trang 10 và 11).
Tại Việt Nam, kinh doanh du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng còn tương đối mới mẻ. Ngành du lịch Việt Nam thực sự có cơ hội phát triển trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ 20. Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành du lịch đã có những thành công bước đầu để chứng tỏ nó là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. So với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có đủ các điều kiện chung và riêng, có lợi thế so sánh để phát triển du lịch. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng từ 250.000 nghìn lượt khách năm 1990 lên 3.5 triệu lượt khách năm 2005. Cũng trong giai đoạn này người Việt Nam đi du lịch nước ngoài và trong nước cũng tăng lên đáng kể. Năm 1990, khách du lịch nội địa là 1.000 nghìn lượt, năm 2005 là 16 500 nghìn lượt. Dịch vụ du lịch cũng có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng chủng loại dịch vụ. Dịch vụ vận chuyển khách du lịch bằng các phương tiện phổ biến được đầu tư nâng cấp. Dịch vụ vui chơi giải trí
10
ngày càng nhiều và đa dạng về chủng loại. Dịch vụ lưu trú và ăn uống phát triển mạnh. Ví dụ năm 2005 cả nước có khoảng 6.000 cơ sở lưu trú với 120.000 buồng. Tuy nhiên, GDP của ngành du lịch chỉ chiếm khoảng 4% GDP cả nước. Thu nhập du lịch đạt 17.400 tỷ đồng.
(Võ Thị Thắng (2005) Du lịch Việt Nam vững bước trên đường phát triển, Báo Du lịch số 27+28).
Thông qua các số liệu trên đây cho thấy, kết quả kinh doanh và sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế so sánh của du lịch Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chính là bộ phận kinh doanh lữ hành chưa được đánh giá đúng mức, chưa thể hiện được vai trò của nó ở trong ngành. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam có qui mô hết sức nhỏ bé, manh mún, tổ chức lỏng lẻo, năng lực kinh doanh yếu trong ngành kinh doanh có tính toàn cầu cao, môi trường kinh doanh lại thường xuyên biến động. Các doanh nghiệp lữ hành được coi là lớn như Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội, Tổng Công ty Du lịch Hà Nội, Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist) có qui mô, doanh thu, số lượng khách hàng năm chỉ bằng hoặc nhỉnh hơn đại lý lữ hành hạng ba của Nhật, Đức và Mỹ.
Kinh doanh lữ hành một mặt rất nhạy cảm với mỗi biến động trong môi trường kinh doanh, mặt khác mang tính thị trường toàn quốc, khu vực và toàn cầu hoá cao. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu đều phải đối mặt với tính biến động cao và phạm vi rộng của môi trường kinh doanh. Kinh doanh lữ hành là một bộ phận cấu thành ngành kinh doanh du lịch, do đó có những đặc điểm chung của ngành, tuy nhiên kinh doanh lữ hành có những đặc điểm riêng biệt hơn về vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động. Kinh doanh lữ hành là một lĩnh vực rất khó và còn mới mẻ ở Việt Nam, trong điều kiện bắt đầu phát triển, điểm xuất phát thấp, lại đứng trước xu hướng toàn cầu hoá, xu hướng chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, xu hướng chuyển từ du lịch cũ sang du lịch mới ở đầu thế kỷ 21.
- MỤC ĐÍCH CỦA MÔN HỌC
Môn Quản trị kinh doanh lữ hành có mục đích:
• Trang bị cho người học kiến thức cơ bản về kinh doanh lữ hành


